![]() |
![]() |
![]() |
Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh như vậy trong bài diễn văn tại Lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám thành công (19/8/1945-19/8/2025) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945-2/9/2025).
Trải qua chặng đường 80 năm gian nan nhưng cũng đầy rực rỡ, nền kinh tế Việt Nam đã chứng minh bản lĩnh, trí tuệ và khát vọng vươn lên không ngừng của dân tộc. Từ một đất nước nông nghiệp lạc hậu, chịu nhiều tàn phá của chiến tranh, Việt Nam đã từng bước khẳng định vị thế là một trong những nền kinh tế năng động hàng đầu khu vực và ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới.
Trong 80 năm từ khi lập nước, hơn 40 năm đầu, kinh tế Việt Nam chủ yếu phục vụ nhu cầu kháng chiến, không có tích lũy cho phát triển dài hạn. Kể từ sau Đổi mới 1986, kinh tế Việt Nam ghi dấu ấn vượt bậc, với tổng sản phẩm nội địa (GDP) tăng gấp 274 lần chỉ sau hơn ba thập kỷ, tổng thu nhập quốc gia tiến sát mốc 10 triệu tỷ đồng và thu nhập bình quân đầu người đạt mức tiệm cận nhóm thu nhập trung bình cao.
Nếu năm 1990, GDP của Việt Nam chỉ đạt 41.955 tỷ đồng thì đến năm 1992 đã vượt 100.000 tỷ đồng (110.532 tỷ đồng), năm 2006 vượt mốc 1 triệu tỷ đồng. Đặc biệt, năm 2024, quy mô GDP đạt hơn 11,5 triệu tỷ đồng (tương đương 476,3 tỷ USD), đưa Việt Nam trở thành nền kinh tế lớn thứ tư Đông Nam Á và đứng thứ 34 trên thế giới. Như vậy, chỉ sau 34 năm (1990-2024), GDP đã tăng gần 275 lần.
![]() |
Tổng thu nhập quốc gia cũng ghi nhận bước tiến mạnh mẽ, từ 39.284 tỷ đồng năm 1990 lên gần 1,04 triệu tỷ đồng năm 2006, và đến 2023 đạt 9,79 triệu tỷ đồng, tăng 249 lần so với thời điểm đầu.
Thu nhập bình quân đầu người cũng phản ánh rõ sự thay đổi tích cực này. Với thu nhập bình quân đầu người chỉ 96 USD vào năm 1989, đến năm 2009 Việt Nam đã trở thành quốc gia có thu nhập trung bình (1.120 USD). Năm 2024, GDP bình quân đầu người đạt 4.700 USD (tương đương 114 triệu đồng), gấp 58,75 lần so với năm 1975. Đây là nền tảng quan trọng để Việt Nam sớm bước vào nhóm nước có thu nhập trung bình cao.
Tăng trưởng kinh tế tác động đến sự phát triển mọi mặt của xã hội. Nhiều chỉ tiêu được Đại hội Đảng XIII đặt ra trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2021-2030 gần đạt hoặc vượt kế hoạch.
Tỷ lệ đô thị hoá Việt Nam đến năm 2024 khoảng 42%, gần đạt mục tiêu 50% vào năm 2030. Trong đó, Hà Nội và TP HCM là hai đô thị đông dân nhất, liên tục mở rộng vùng đô thị trong 50 năm qua. Tính đến cuối năm 2024, trước sáp nhập, hai phương này thu hút hơn 17% lao động cả nước, gần gấp đôi tỷ lệ năm 2005.
Nhờ cải thiện chất lượng sống, từ năm 2016, Việt Nam bước vào nhóm quốc gia có Chỉ số phát triển con người (HDI) cao, theo đánh giá của Liên Hợp Quốc, và duy trì mức trên 0,7 – đạt chỉ tiêu Đại hội Đảng đặt ra. Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam năm 2024 đạt 74,7 – sát chỉ tiêu 75, tăng hơn 20 tuổi so với thời điểm thống nhất đất nước.
![]() |
Tuy nhiên, Việt Nam vẫn đang đối mặt với nguy cơ tụt hậu về kinh tế. Xét về con số tuyệt đối, nền kinh tế Việt Nam vẫn còn khiêm tốn so với một số quốc gia trong khu vực Đông Nam Á là Indonesia với 1.400 tỷ USD, Singapore với 547 tỷ USD và Thái Lan với 530 tỷ USD.
Điều đáng lo ngại nhất là năng suất lao động ở Việt Nam rất thấp. Trong giai đoạn 2021–2025, năng suất lao động chỉ đạt trung bình 5,24%, thấp hơn nhiều so với mục tiêu 6,5% và tụt hậu xa so với các quốc gia khác trong khu vực.
Năm 2023, năng suất lao động của Việt Nam theo chỉ số PPP ( tính theo sức mua tương đương năm 2021) chỉ đạt 11,2% so với Singapore, 27% so với Hàn Quốc, 28,6% so với Nhật Bản, 36,2% so với Malaysia, 64,6% so với Thái Lan, 57,3% so với Trung Quốc, 84,8% so với Indonesia và chỉ cao hơn một chút so với Philippines ở mức 104,9%.
Cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch chậm, giá trị gia tăng vẫn ở mức thấp, với tỷ lệ nội địa hóa chỉ đạt khoảng 36,6%. Các loại hình thị trường khác nhau không phát triển đồng bộ, trong khi năng lực nội tại của khu vực kinh tế tư nhân và tập thể còn yếu, quy mô nhỏ và thiếu sự liên kết.
![]() |
Năm 2026 được xác định là một cột mốc mang tính bước ngoặt, mở đầu cho hành trình thực hiện các mục tiêu chiến lược của dân tộc trong giai đoạn mới. Năm 2026 đánh dấu tròn 40 năm công cuộc Đổi mới đất nước, là dịp để nhìn lại những bài học từ quá trình đổi mới, vượt qua những thách thức hiện tại và định vị sự phồn vinh của đất nước trong tương lai.
Văn kiện Đại hội XIV đặt mục tiêu năm 2026 là năm bắt đầu của các kế hoạch hành động lấy con người làm trung tâm. Bắt đầu thực hiện các đột phá chiến lược về đào tạo nhân lực chất lượng cao, khơi dậy khát vọng cống hiến của thế hệ sáng tạo nhằm thực hiện lời hứa về một Việt Nam hùng cường.
Thế hệ sáng tạo không chỉ làm việc vì sinh kế, mà làm việc để trả lời câu hỏi: “Chúng ta đóng góp gì cho tầm nhìn Việt Nam 2045?”.
Sáng tạo để tự chủ: Tự chủ tư duy, tự chủ công nghệ, tự chủ kinh tế. Lời hứa về một dân tộc hùng cường bắt đầu từ việc dám nghĩ khác, làm khác để tìm ra những con đường phát triển ngắn nhất, hiệu quả nhất cho thực tiễn Việt Nam; chuyển từ việc sử dụng công nghệ sang làm chủ và sáng tạo công nghệ lõi (AI, bán dẫn, bảo mật) để bảo vệ chủ quyền quốc gia; tạo ra các sản phẩm Việt Nam có giá trị gia tăng cao, giúp đất nước thoát khỏi sự phụ thuộc vào các chuỗi cung ứng giá rẻ.
Sáng tạo để phụng sự: Hùng cường không chỉ là giàu có, mà là sự an toàn và hạnh phúc của nhân dân. Sáng tạo phải hướng tới giải quyết các vấn đề xã hội, quản trị quốc gia thông minh.
Sáng tạo để vươn tầm: Vươn tầm không chỉ là sự tăng trưởng về con số, mà là sự công nhận của thế giới đối với trí tuệ Việt Nam, mang sản phẩm công nghệ của người Việt ra thị trường toàn cầu, thay đổi vị thế từ quốc gia gia công sang quốc gia kiến tạo.
Tất nhiên, sáng tạo không thể tự nảy nở nếu thiếu môi trường thuận lợi. Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại A80 vì thế không chỉ là lời hứa với lịch sử, khế ước với tương lai, mà còn là trách nhiệm với hiện tại trong việc kiến tạo điều kiện để thế hệ sáng tạo phát triển. Đó là cam kết xây dựng thể chế minh bạch, khuyến khích đổi mới, tôn trọng trí tuệ, đặt con người – đặc biệt là thế hệ trẻ – vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển đất nước.
![]() |
Như lời Tổng Bí thư Tô Lâm, qua chặng đường 80 năm đầy gian khó nhưng hào hùng, Việt Nam đã khẳng định chân lý: Dưới ngọn cờ vinh quang của Đảng, với ánh sáng Hồ Chí Minh soi đường, dựa vào sức mạnh nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc, không có khó khăn, thử thách nào mà nhân dân ta không vượt qua; không có mục tiêu cao đẹp nào mà dân tộc ta không đạt tới. Chính vì vậy, không có lực cản nào, không có lý do gì có thể ngăn bước Việt Nam vươn tới hòa bình, thịnh vượng, dân tộc ta trường tồn và phát triển.
Mẫu hình “quốc gia tự cường” mà Việt Nam đã chọn lựa và đang định hình không đồng nghĩa với đóng cửa, mà là sự chủ động hội nhập có chọn lọc, xây dựng năng lực quốc gia để thích ứng và vượt qua biến động toàn cầu.
Việt Nam không thể chỉ say sưa với những con số tăng trưởng cao, những thành tích xuất khẩu vượt trội mà chủ thể đóng góp chính lại là dòng vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Khi những động lực tăng trưởng truyền thống đang suy giảm, cơ hội dân số vàng đang thu hẹp, mẫu số chung cho bài toán tăng trưởng của Việt Nam là sự hợp lực giữa “sức mạnh nội sinh” và “đổi mới sáng tạo” trên nền tảng lấy con người làm trung tâm.
Lời hứa tại Lễ kỷ niệm A80 không chỉ là một mục tiêu chính trị, đó là lời hiệu triệu của lịch sử dành cho một thế hệ mới. Nếu cha ông ta dùng lòng quả cảm để giữ vững độc lập, thì thế hệ sáng tạo hôm nay dùng trí tuệ đột phá để dựng xây một Việt Nam hùng cường và giàu bản sắc.
Niềm tự hào, tự tôn dân tộc có sự kết nối qua nhiều thế hệ và có một bề dày thời gian. Năm 2026 không chỉ là một mốc thời gian, mà là điểm khởi đầu của hành trình vươn tới tương lai, nơi sự sáng tạo và khát vọng của thế hệ trẻ trở thành động lực chính dẫn dắt dân tộc.
kinh tế,việt nam,THẾ HỆ SÁNG TẠO,Tổng Bí thư Tô Lâm,Đại hội XIV của Đảng,tăng trưởng kinh tế,GDP,tăng trưởng GDP,kinh tế Việt Nam#Thế #hệ #sáng #tạo #và #lời #hứa #với #lịch #sử1771401520















