![]() |
Năm 2026 đánh dấu khởi đầu giai đoạn phát triển mới của Việt Nam, gắn với triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2026 – 2030. Mekong ASEAN có cuộc trò chuyện với đại biểu Quốc hội Nguyễn Huy Thái – Phó trưởng đoàn ĐBQH tỉnh Cà Mau, xoay quanh các quyết sách chiến lược đã được Trung ương hoạch định, mở ra tầm nhìn dài hạn, khơi dậy khát vọng phát triển, củng cố niềm tin của nhân dân, tạo động lực mạnh mẽ để đất nước phát triển nhanh, bền vững.
![]() |
Mekong ASEAN: Nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV đã khép lại với nhiều dấu ấn. Xin được nghe chia sẻ cảm xúc, cảm nhận của ông trên cương vị đại biểu Quốc hội về nhiệm kỳ vừa qua?
Đại biểu Nguyễn Huy Thái: Quốc hội khóa XV là một nhiệm kỳ đặc biệt, khi đất nước phải đối diện với nhiều vấn đề hệ trọng, nhiều nội dung mới, phức tạp, chưa từng có tiền lệ – trong đó có khủng hoảng y tế toàn cầu, đứt gãy chuỗi cung ứng, biến động kinh tế – xã hội chưa từng có… Quốc hội phải ra quyết định trong trường hợp khẩn cấp, với yêu cầu thấu đáo, chính xác nhưng lại phải linh hoạt, nhanh chóng đáp ứng yêu cầu khẩn thiết từ cuộc sống.
Trong bối cảnh đó, Quốc hội đã phát huy mạnh mẽ vai trò hoàn thiện thể chế, pháp luật; sửa đổi, bổ sung nhiều đạo luật quan trọng tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho giai đoạn phát triển tiếp theo với số lượng luật lớn. Trong đó, việc sửa đổi, bổ sung một số điều Hiến pháp năm 2013 đã kịp thời thể chế hóa các chủ trương lớn của Đảng, nhất là sắp xếp tổ chức bộ máy Nhà nước theo hướng “tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, gần dân, sát dân, sát thực tiễn”.
Nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV, hoạt động lập pháp có sự đổi mới mạnh mẽ về tư duy xây dựng và quy trình xây dựng pháp luật. Chủ động, sáng tạo chuẩn bị từ sớm từ xa, “đi trước một bước về thể chế” – phản ứng kịp thời với những tình huống mới phát sinh, đáp ứng yêu cầu thực tiễn cuộc sống. Điển hình như việc Quốc hội đã ban hành nhiều nghị quyết đặc thù, đặc biệt để thích ứng linh hoạt trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19. Lần đầu tiên, Quốc hội trình Bộ Chính trị xem xét, thông qua định hướng chương trình xây dựng pháp luật cho cả nhiệm kỳ.
Điều đáng nói nữa là tinh thần trách nhiệm và bản lĩnh của đại biểu. Nhiều đại biểu Quốc hội đã nói thẳng, nói thật, chỉ ra những bất cập và đề xuất giải pháp, thể hiện bản lĩnh và trách nhiệm với nhân dân. Nghị trường trở nên sôi động và dân chủ hơn nhờ những ý kiến thẳng thắn của các đại biểu.
Trực tiếp được tham dự vào hoạt động của Quốc hội là một trải nghiệm quý giá của bản thân tôi. Không khó để nhận thấy sức mạnh lòng dân, năng lực chống chịu kiên cường của nền kinh tế… Người dân thực sự chủ động, quan tâm hơn đến chính sách, đồng thời đặt ra những yêu cầu cao hơn về sự minh bạch và trách nhiệm giải trình. Điều ấy đòi hỏi Quốc hội, Chính phủ và cả hệ thống chính trị phải tiếp tục thích ứng để đáp ứng kỳ vọng của nhân dân.
Khi đối diện và vượt qua những thử thách lớn ở nhiệm kỳ vừa qua, niềm tin của nhân dân, sự linh hoạt của bộ máy, phẩm cách quốc gia và tinh thần đồng lòng của dân tộc chính là sức mạnh, khẳng định một Việt Nam khát vọng và tự cường – tựa chắc vào truyền thống, vững vàng trong hiện tại, vững bước tới tương lai.
![]() |
Mekong ASEAN: Nhiệm kỳ mới bắt đầu từ năm 2026, với nhiều mục tiêu chiến lược đã được Trung ương xác định trong Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Ông kỳ vọng nhất vào mục tiêu nào và có đề xuất gì để mục tiêu đó sớm đạt được?
Đại biểu Nguyễn Huy Thái: Đột phá về nhân lực là một trong ba đột phá chiến lược mà Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng xác định. Tôi quan tâm nhất đến vấn đề nhận diện và trọng dụng người tài – nội dung quan trọng thuộc đột phá về nhân lực.
Bộ máy chính quyền địa phương hai cấp, tuy còn có những khó khăn, song đang dần vận hành ngày một trơn tru trong một “quỹ đạo” mới. Đây chính là thời điểm thích hợp để thiết lập lại cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đánh giá… cán bộ, công chức nói chung, người tài nói riêng, nhất là những người trẻ tuổi. Chúng ta không thể nhìn nhận “người tài” thuần túy là người có năng lực vượt trội trong một lĩnh vực chuyên môn cụ thể (tri thức, kĩ năng, khả năng sáng tạo, năng lực lãnh đạo, tư duy chiến lược…), mà còn bao hàm cả đạo đức và tinh thần phụng sự cộng đồng, xã hội. Đó phải là người linh hoạt ứng dụng, vận dụng, sử dụng tài năng của mình tạo ra giá trị cho cộng đồng, cho đất nước. Đồng thời góp phần tạo năng lượng tích cực trong cộng đồng, lan tỏa khí chất dân tộc, bằng chính phông văn hóa cá nhân của mình.
Ngày 7/11/2025, Ban Chấp hành Trung ương ban hành Kết luận số 205-KL/TW của Bộ Chính trị một số giải pháp đột phá trong tuyển dụng, bố trí, sử dụng, đãi ngộ cán bộ. Điều này nhằm thu hút, trọng dụng những cán bộ tài năng, xuất sắc, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Hàng loạt cơ chế đặc biệt đã được đưa ra, như tuyển dụng đặc cách, ưu tiên quy hoạch chức danh lãnh đạo, được tạo môi trường làm việc để phát huy năng lực… Trước đó, tháng 8/2025, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; nêu rõ mục tiêu xây dựng, đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao.
Tôi kỳ vọng những chính sách trọng dụng người tài sẽ đi vào thực chất, triển khai nhanh chóng từ Trung ương đến địa phương để chuẩn bị nền tảng cho đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới. Trước hết bắt đầu từ công tác tuyển dụng. Như sinh viên mới ra trường, dù ít kinh nghiệm nhưng có năng lực, hoài bão và tâm huyết. Các bạn trẻ đều mong được định hướng, được khuyến khích, bảo vệ trong hoạt động lao động, sáng tạo để cống hiến và khẳng định bản thân. Điều này đòi hỏi nền công vụ bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh, coi trọng đổi mới. Cùng với đó là cơ chế bảo vệ những người dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung thực hiện quyết liệt hơn, hiệu quả hơn.
![]() |
![]() |
Mekong ASEAN: Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng thể hiện rõ chủ trương “dân là gốc”, lấy nhân dân làm trung tâm của quá trình hoạch định chính sách. Theo ông, đâu là những giải pháp hiệu quả để đưa tiếng nói của nhân dân gần hơn tới những người lãnh đạo, những người hoạch định chính sách?
Đại biểu Nguyễn Huy Thái: Chủ trương “dân là gốc” luôn nhất quán ở Việt Nam từ thời kỳ dựng nước. Từ xa xưa, cha ông ta đã đúc kết: “Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân”. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần nhấn mạnh: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân”. Nhân dân vừa là chủ thể, vừa là mục tiêu của sự nghiệp cách mạng. Chính nhờ dựa vào dân, phát huy sức mạnh toàn dân mà đất nước ta đã giành được độc lập, thống nhất và đạt được những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới suốt 40 năm qua.
Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định quan điểm “dân là gốc, là thước đo của mọi quyết sách”. “Thước đo” ấy chính là chất lượng cuộc sống của nhân dân, là niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, là sự tham gia tích cực của nhân dân vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Để đạt được hiệu quả thực chất, tôi cho rằng cần hoàn thiện cơ chế để tiếng nói của dân đến được nơi cần đến. Cơ chế ấy đòi hỏi phải chuẩn hóa các kênh tiếp nhận thông tin, trước hết là phản hồi bắt buộc. Cơ quan liên quan phải có câu trả lời rõ ràng khi tiếp nhận kiến nghị của người dân, dù có tiếp thu hay không. Không phải kiến nghị nào của người dân cũng đều phải đưa đến một giải pháp lập pháp, song sẽ là cơ sở thực tế để việc hoạch định chính sách sát với cuộc sống hơn.
Đặc biệt, việc những người có trách nhiệm chủ động đi thực tế, tổ chức những cuộc đối thoại trực tiếp với người dân có hiệu quả vô cùng lớn. Là đại biểu quốc hội chuyên trách tại địa phương, tôi quan sát và cảm nhận sâu sắc điều này. “Nghe dân nói, nói cho dân hiểu, làm cho dân tin”. Khi người dân thấy ý kiến của mình được lắng nghe và chuyển hóa thành hành động, bà con sẽ chủ động tìm đến và nói lên những lời gan ruột. Kiến tạo môi trường để người dân mạnh dạn nói, cán bộ mạnh dạn nghe, theo tôi, có lẽ là cách làm hiệu quả nhất.
Ngoài ra, việc cải cách hành chính theo hướng thân thiện, đơn giản, liêm chính; xây dựng đội ngũ cán bộ “gần dân, hiểu dân, trọng dân” cũng rất quan trọng. Tôi cho rằng cần xây dựng cơ chế tham vấn cộng đồng bắt buộc đối với các dự án, chính sách tác động lớn đến đời sống người dân, phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc các cấp và các cơ quan báo chí, nâng cao chất lượng đại biểu dân cử các cấp, tăng cường ứng dụng công nghệ để rút ngắn khoảng cách tiếp cận hai chiều giữa cán bộ và người dân. Xây dựng nền tảng số dễ sử dụng, công khai và truy vết được việc xử lý các ý kiến góp ý là giải pháp hiệu quả trong thời đại công nghệ, để người dân dễ dàng tiếp cận và phản biện chính sách hơn.
![]() |
| Năm 2026 bắt đầu giai đoạn khởi đầu mới của Việt Nam với sự kiện trọng đại: Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Ảnh: Thảo Ngân/Mekong ASEAN |
![]() |
Mekong ASEAN: Đối với vùng ĐBSCL, ông đánh giá đâu là vấn đề cấp bách cần giải quyết để phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội?
Đại biểu Nguyễn Huy Thái: Theo tôi, các vấn đề cấp bách cho vùng ĐBSCL cũng không nằm ngoài tổng thể quốc gia. Đó là thể chế, con người và hạ tầng.
Sau hợp nhất địa giới hành chính, từ một đồng bằng châu thổ mang sứ mệnh đảm bảo an ninh lương thực quốc gia – một “vựa lúa”, “vựa trái cây” và “vựa thủy sản” của cả nước – ĐBSCL đang định vị lại là nơi khởi nguồn mới của tăng trưởng đột phá cho Việt Nam, dựa trên 3 trụ cột: Nông nghiệp sinh thái; Công nghiệp chế biến & thương mại, dịch vụ; Kinh tế biển. ĐBSCL được xác định phát triển theo hướng nông nghiệp hiện đại, bền vững, thích ứng biến đổi khí hậu gắn với không gian phát triển mới và liên kết vùng là trụ cột quan trọng.
Tôi cho rằng, việc đổi mới thể chế liên kết vùng cần được xem là giải pháp trọng tâm tạo không gian và động lực phát triển mới. Nhiều năm qua, không gian phát triển ĐBSCL bị chia cắt theo địa giới hành chính cũ, dẫn đến đầu tư chồng chéo, cạnh tranh cục bộ, thiếu sự phối hợp đồng bộ trong quản lý tài nguyên nước, quy hoạch thủy lợi và hạ tầng logistics… Do đó, rất cần thiết lập cơ chế điều phối vùng đủ thẩm quyền, giúp các địa phương liên kết hiệu quả, đồng bộ hóa quy hoạch và sử dụng nguồn lực.
Tầm nhìn tổng thể sẽ giúp ĐBSCL hóa giải những bất cập, đồng thời thúc đẩy phát triển trên diện rộng, đặc biệt là gắn kết về chuỗi giá trị, thị trường, logistics và thương hiệu. Vùng cần những cơ chế mạnh hơn về tài chính, đầu tư và chia sẻ lơi ích… Tiếp theo là đổi mới thể chế và tư duy phát triển, trong đó có việc chuyển đổi căn bản từ tư duy sản xuất sang tư duy kinh tế, từ mô hình “sản lượng” sang mô hình “giá trị và bền vững”; phát triển nông nghiệp xanh, hiện đại, tuần hoàn và ứng dụng công nghệ cao…
Để có cơ sở triển khai các nội dung trên, tôi cho rằng việc điều chỉnh, triển khai quy hoạch tích hợp vùng, quy hoạch lại các địa phương (5 tỉnh, thành phố sau hợp nhất ở ĐBSCL) là ưu tiên cần sớm được thực hiện nhất.
Về nhân lực, tôi cho rằng việc quan tâm đến phát triển, nâng cao trình độ văn hóa, giáo dục là “bệ phóng” cho bất kỳ vùng, miền nào. Ở ĐBSCL, vấn đề này càng trở nên cấp thiết, trong bối cảnh con người đang dần nặng về “chế thiên” mà xem nhẹ “thuận thiên”. Một đồng bằng được hình thành bởi nước lại đang phải chống chịu trước một nghịch lý là khô khát giữa biển nước; đang đối diện với nguy cơ chìm dần trong nước. Vì vậy, tôi rất mong có một chiến lược phát triển nguồn nhân lực, gắn liền với thay đổi, nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường, cảnh quan.
Về hạ tầng, vấn đề cấp bách của ĐBSCL hiện nay là nước biển dâng, hạn hán, xâm nhập mặn, sụt lún và sạt lở đất, môi trường ô nhiễm, cạn kiệt dinh dưỡng đất, sụt giảm trữ lượng nước từ thượng nguồn chảy về… Vì vậy, ngoài đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông, hạ tầng sản xuất nông nghiệp và logistics để phát triển kinh tế, tôi rất quan tâm đến việc đầu tư hạ tầng liên quan đến Chương trình phòng, chống thiên tai, ứng phó biến đổi khí hậu vùng ĐBSCL. Việc này giúp bảo vệ bờ biển và hệ sinh thái rừng ngập mặn, khôi phục rừng phòng hộ ven biển; bảo vệ thiên nhiên gắn với sinh kế bền vững cho người dân ven biển.
Mekong ASEAN: Trân trọng cảm ơn Đại biểu!
nhân tài, đất nước, Quốc hội, Nghị quyết 71-NQ/TW, Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, đại biểu Quốc hội#Nhận #diện #và #trọng #dụng #người #tài1771815944
















