![]() |
Khi những “bánh răng kinh tế” đã bắt nhịp vào quỹ đạo mới, việc duy trì đà tăng trưởng hai con số trong bối cảnh lạm phát được kiểm soát chính là sự khẳng định về một chính sách tiền tệ bản lĩnh: Vừa đủ “mềm” để nuôi dưỡng sản xuất, vừa đủ “rắn” để bảo đảm an toàn hệ thống trước những biến động khó lường của địa chính trị toàn cầu. |
![]() |
Năm 2025 đã đi qua với những điểm nhấn nổi bật trong điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước. Bước vào đầu năm 2025, bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt nhiều rủi ro, bất định. Từ chính sách thuế quan thay đổi nhanh chóng, đến căng thẳng địa chính trị gia tăng; lộ trình chính sách tiền tệ khó lường của các ngân hàng trung ương lớn; rủi ro tiềm ẩn trên thị trường tài chính – tiền tệ và thị trường hàng hoá toàn cầu,… Các yếu tố này có ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế có độ mở lớn như Việt Nam.
Trong bối cảnh đầy khó khăn, thách thức đó, Ngân hàng Nhà nước đã điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, hiệu quả, phối hợp đồng bộ, hài hòa, chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách khác góp phần ưu tiên thúc đẩy mạnh mẽ tăng trưởng kinh tế gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát.
Một trong những thành công điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước trong năm qua là duy trì mặt bằng lãi suất thấp ổn định theo đúng định hướng của Chính phủ. Để đạt được mục tiêu này, ngay từ đầu năm, các ngân hàng đã giảm lãi suất huy động, tiết giảm chi phí hoạt động, đẩy mạnh chuyển đổi số, đồng thời triển khai các chương trình giảm lãi suất cho vay, sẵn sàng chia sẻ một phần lợi nhuận để hạ lãi suất cho vay.
Nhờ đó, lãi suất cho vay bình quân trên thị trường có xu hướng giảm dần, giúp doanh nghiệp và người dân tiếp cận vốn thuận lợi hơn, giảm chi phí tài chính và cải thiện khả năng phục hồi sản xuất kinh doanh.
Việc giữ ổn định lãi suất không chỉ mang ý nghĩa hỗ trợ tăng trưởng ngắn hạn, mà còn góp phần ổn định thị trường tiền tệ và định hướng kỳ vọng của thị trường. Trong bối cảnh lạm phát được kiểm soát, nhưng vẫn tiềm ẩn rủi ro từ chi phí đầu vào và biến động bên ngoài, chính sách lãi suất ổn định được xem là mỏ neo quan trọng đối với kinh tế vĩ mô.
Trong điều hành lãi suất, Ngân hàng Nhà nước không chỉ tập trung vào mục tiêu tăng trưởng tín dụng, mà còn đặc biệt lưu ý đến an toàn hệ thống ngân hàng. Việc duy trì chênh lệch hợp lý giữa lãi suất huy động và cho vay tạo điều kiện để các tổ chức tín dụng tăng cường trích lập dự phòng, xử lý nợ xấu và củng cố năng lực tài chính. Đây là yếu tố then chốt để bảo đảm vai trò trung gian tài chính của hệ thống ngân hàng trong trung và dài hạn.
Cùng với lãi suất, tỷ giá là điểm nhấn quan trọng trong diễn biến thị trường tiền tệ năm 2025. Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều hành tỷ giá theo hướng linh hoạt, không neo cứng, qua đó vừa hạn chế các cú sốc từ bên ngoài, vừa giữ ổn định thị trường ngoại hối trong nước. Tỷ giá được điều chỉnh phù hợp với cung – cầu ngoại tệ và diễn biến thị trường quốc tế, tránh những biến động đột ngột gây tâm lý bất ổn.
![]() |
Tăng trưởng tín dụng chính là một trong những gam màu ấn tượng nhất trong bức tranh chính sách tiền tệ năm 2025. Tăng trưởng tín dụng các tháng năm 2025 đều tăng cao hơn so với cùng kỳ năm 2024 và duy trì xu hướng tháng sau cao hơn tháng trước, đến ngày 31/12, dư nợ tín dụng nền kinh tế đạt trên 18,58 triệu tỷ đồng, tăng 19,01% so với cuối năm 2024.
Cơ cấu tín dụng tiếp tục tập trung vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; một số lĩnh vực có tốc độ tăng trưởng cao (đến cuối tháng 10/2025, tín dụng cho công nghiệp hỗ trợ tăng trên 27%, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao tăng trên 30%) hoặc chiếm tỷ trọng lớn (nông nghiệp, nông thôn chiếm 22,42%, doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm 19,11%).
Nhìn trên mặt bằng chung, bức tranh tín dụng năm 2025 cho thấy mức tăng trưởng cao và có độ lan tỏa rộng, khi hầu hết các ngân hàng đã công bố báo cáo kinh doanh đều ghi nhận tăng trưởng tín dụng vượt 15%. Diễn biến này phản ánh xu hướng mở rộng cho vay diễn ra khá đồng đều trong toàn hệ thống, từ nhóm ngân hàng lớn đến các tổ chức tín dụng quy mô trung bình.
Ở nhóm ngân hàng thương mại Nhà nước, Vietcombank, VietinBank và BIDV ghi nhận tăng trưởng tín dụng quanh 15-16%. Với BIDV, ngân hàng tiếp tục giữ vị trí quán quân về cho vay khi ghi nhận dư nợ cho vay đạt hơn 2,3 triệu tỷ đồng, tăng 15,2% so với cuối năm 2024. Trong khi Agribank công bố mức tăng trên 16%, với dư nợ tập trung chủ yếu vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và sản xuất – kinh doanh.
Tại khối ngân hàng thương mại cổ phần, ACB ghi nhận tăng trưởng tín dụng 15,2%, trong khi Techcombank đạt mức 18,36% tại thời điểm cuối năm 2025, cho thấy đà tăng trưởng được duy trì ổn định trong suốt năm. Đáng chú ý, HDBank cho biết dư nợ tín dụng tăng trên 20% chỉ sau 9 tháng, mức cao so với mặt bằng chung, nhờ đẩy mạnh cho vay bán lẻ, doanh nghiệp nhỏ và vừa và các lĩnh vực ưu tiên.
Ở nhóm ngân hàng quy mô trung bình, tăng trưởng tín dụng tiếp tục được ghi nhận ở mức cao. Sacombank kết thúc năm 2025 với tổng dư nợ tín dụng hơn 626.000 nghìn tỷ đồng, tăng 16% so với đầu năm; Nam A Bank đạt tổng tín dụng hơn 198.000 tỷ đồng, tăng 18,2%; trong khi ABBank ghi nhận dư nợ hơn 127.000 tỷ đồng, tăng 16% so với cuối năm 2024.
|
Bước sang năm 2026, nền kinh tế Việt Nam đứng trước vận hội mới với mục tiêu tăng trưởng GDP đầy tham vọng ở mức 10%. Trong bối cảnh đó, tín dụng ngân hàng không chỉ đơn thuần là công cụ cung ứng vốn mà còn đóng vai trò là dòng huyết mạch, điều tiết nhịp độ phát triển của toàn xã hội. Để hiện thực hóa con số tăng trưởng hai chữ số, dòng vốn tín dụng đang được định hướng trở thành nguồn lực bổ trợ có trọng tâm, giúp các doanh nghiệp bứt phá trong các dự án hạ tầng chiến lược, năng lượng sạch và sản xuất công nghệ cao.
Tại buổi làm việc với Đoàn công tác Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương về tổng kết Nghị quyết số 05 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII và giải pháp, chương trình hành động thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số giai đoạn 2026-2030 ngày 15/1/2026, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Thị Hồng cho biết trong thời gian tới, mục tiêu đặt ra là thúc đẩy tăng trưởng hai con số gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế, đi đôi với đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô và các cân đối lớn của nền kinh tế. Đây là mục tiêu cao và ngành ngân hàng xác định điều này gắn liền với nhiệm vụ chính trị của mình.
Theo Thống đốc, để đóng góp cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế, có nhiều yếu tố như vốn, nhân lực, đổi mới sáng tạo…, đặc biệt, Đảng Nhà nước đã xác định, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là động lực tăng trưởng chính trong giai đoạn tới.
“Vốn của nền kinh tế đến từ nhiều nguồn, trong đó có tín dụng từ phía ngân hàng, hiện tỷ lệ tín dụng/GDP đã ở mức rất cao so với các nước có điều kiện tương đồng như Việt Nam, chính vì vậy, ngành ngân hàng đối diện nhiều áp lực trong thực hiện nhiệm vụ đa mục tiêu trong thời gian tới,” Thống đốc cho hay.
![]() |
Tăng trưởng tín dụng góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam 2025 và được dự báo sẽ tiếp tục là động lực lớn cho mục tiêu tăng trưởng hai chữ số giai đoạn 5 năm tiếp theo. Tuy nhiên, một hệ thống tài chính phụ thuộc quá nhiều vào ngân hàng sẽ tiềm ẩn rủi ro. Theo ước tính của đại diện Ngân hàng Nhà nước, hệ số tín dụng/GDP năm 2025 đã tăng lên khoảng 146%, là mức cao nhất trong các nước có thu nhập trung bình thấp như Việt Nam. Và nếu tín dụng tiếp tục tăng 16 – 17% giai đoạn tới thì đến năm 2030, tỷ lệ tín dụng/GDP sẽ đạt tới 180-185% GDP, thuộc nhóm quốc gia có tỷ lệ đòn bẩy tài chính cao nhất thế giới.
Nếu con số này tiếp tục tăng sẽ gây rủi ro cho hệ thống ngân hàng và gây hệ lụy cho nền kinh tế, khó đạt mục tiêu vừa tăng trưởng kinh tế cao, vừa bền vững.
Trong khi đó, hệ thống ngân hàng Việt đang trong tình trạng mất cân đối kỳ hạn vốn. Hiện khoảng 80% vốn huy động được là ngắn hạn trong khi 50% vốn cho vay lại là trung và dài hạn.
Cùng với đó, tốc độ tăng trưởng huy động hiện nay thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng tín dụng. Tính đến cuối năm 2025, tốc độ tăng trưởng huy động vốn toàn hệ thống đạt khoảng 15% trong khi tín dụng tăng hơn 19%, mức chênh lệch này tạo áp lực không nhỏ lên thanh khoản hệ thống.
![]() |
Năm 2026, quan điểm điều hành tín dụng của Ngân hàng Nhà nước đã có những chuyển dịch quan trọng, chuyển từ trạng thái hỗ trợ tăng trưởng mạnh mẽ sang trạng thái thận trọng, ưu tiên chất lượng và ổn định vĩ mô.
Ngày 31/12/2025, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành văn bản hướng dẫn các ngân hàng thương mại về kiểm soát tăng trưởng tín dụng năm 2026. Nhà điều hành cho biết mức tăng trưởng dự kiến 15% có điều chỉnh tăng, giảm phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế, đảm bảo kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng.
Sau một năm 2025 tăng trưởng tín dụng bùng nổ, Ngân hàng Nhà nước đã chủ động “hạ nhiệt” mục tiêu cho năm 2026. Đây là mức hợp lý để cân bằng giữa nhu cầu vốn của nền kinh tế và áp lực lạm phát đang gia tăng.
Một thay đổi khác, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục áp dụng cơ chế giao chỉ tiêu công khai từ đầu năm nhưng với các tiêu chí khắt khe hơn: Áp dụng công thức tính dựa trên điểm xếp hạng tín dụng của từng ngân hàng với hệ số nhân mới (khoảng 2,6% thay vì mức cao hơn của các năm trước). Điều này đồng nghĩa với việc các ngân hàng có “sức khỏe” tài chính tốt, quản trị rủi ro cao sẽ được ưu tiên room lớn hơn.
Đi cùng với đó, Ngân hàng Nhà nước có chính sách kiểm soát nhịp độ dòng vốn, yêu cầu các tổ chức tín dụng kiểm soát tốc độ tăng trưởng trong 3 tháng đầu năm không vượt quá 25% chỉ tiêu cả năm để tránh tình trạng dồn vốn quá nhanh vào đầu năm gây bất ổn thị trường.
Quan điểm “nắn” dòng tiền cũng được thực hiện quyết liệt hơn thông qua các gói tín dụng đặc thù: Gói tín dụng xanh dự kiến quy mô đạt khoảng 750.000 tỷ đồng vào cuối năm 2026; Gói hạ tầng chiến lược quy mô 500.000 tỷ đồng dành cho các dự án trọng điểm về giao thông, điện và công nghệ, trong đó dự kiến giải ngân khoảng 100.000 tỷ đồng riêng trong giai đoạn 2025-2026; Gói tín dụng công nghệ cao tập trung vào các doanh nghiệp ứng dụng công nghệ hiện đại với tốc độ tăng trưởng mục tiêu trên 30%, nhằm hiện thực hóa mục tiêu chuyển đổi số quốc gia.
Một điểm thay đổi đáng chú ý khác là sự giám sát đặc biệt đối với tín dụng bất động sản với quy tắc “không vượt quá mức chung”. Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các ngân hàng kiểm soát tốc độ tăng trưởng dư nợ bất động sản không được vượt quá tốc độ tăng trưởng tín dụng chung của chính ngân hàng đó. Các ngân hàng vi phạm quy định về tỷ trọng hoặc tốc độ tăng trưởng bất động sản sẽ bị giảm trừ chỉ tiêu tín dụng trực tiếp mà không cần đề nghị.
Chia sẻ với Mekong ASEAN, PGS.TS Phạm Thế Anh, Trưởng khoa Kinh tế học, Đại học Kinh tế Quốc dân nhận định, với mức tăng trưởng tín dụng ấn tượng 19,01% của năm 2025, con số định hướng 15% cho năm 2026 thoạt nhìn có vẻ là một bước lùi đáng kể. Tuy nhiên, nếu xét trên số tuyệt đối, sự chênh lệch là không quá lớn. Cụ thể, năm 2025, hệ thống ngân hàng đã bơm ra nền kinh tế gần 2,99 triệu tỷ đồng. Với mục tiêu 15% của năm 2026, dự kiến khoảng 2,8 triệu tỷ đồng sẽ được đưa vào thị trường. Như vậy, dòng vốn tín dụng năm nay chỉ thấp hơn khoảng 190.000 tỷ đồng so với năm trước.
PGS.TS Phạm Thế Anh khẳng định, việc đưa chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng về mức 15% không thể gọi đây là thắt chặt tiền tệ. Với dư nợ tín dụng hiện nay đã gấp 1,5 lần GDP (khoảng 146%), việc đẩy tín dụng tăng quá nhanh sẽ gây áp lực lên lạm phát và tỷ giá.
“Tỷ lệ tăng trưởng tín dụng không phải là mục tiêu duy nhất. Khi nền kinh tế bơm tiền quá nhiều, sự ổn định an ninh tiền tệ sẽ bị đe dọa,” ông Phạm Thế Anh nhấn mạnh. Ông phân tích thêm rằng, tăng trưởng tín dụng cao không tự động đồng nghĩa với tăng trưởng kinh tế bền vững, mà cần phải cân bằng giữa việc hỗ trợ tăng trưởng và ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, tỷ giá, tránh tạo bong bóng tài sản.
Vì vậy, vị chuyên gia này khuyến nghị Ngân hàng Nhà nước cần điều hành linh hoạt, tập trung vốn vào sản xuất kinh doanh, hoàn thiện chỉ số an toàn hệ thống, và có thể kết hợp chính sách tài khóa mở rộng để hỗ trợ nền kinh tế.
Chức năng cốt lõi của chính sách tiền tệ là bình ổn kinh tế vĩ mô, nới lỏng tiền tệ khi nền kinh tế suy thoái và thắt chặt khi nền kinh tế tăng trưởng quá nóng. Chính sách tiền tệ là công cụ để các nước giữ ổn định nền kinh tế, chức năng thúc đẩy tăng trưởng trong dài hạn thuộc về chính sách tài khóa.
Do đó, năm 2026 không còn là câu chuyện “nới” hay “siết” một cách cơ học, mà là nắn dòng vốn vào đúng chỗ. Định hướng tín dụng 15% là bước đi chủ động để chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Dòng vốn sẽ được ưu tiên cho sản xuất kinh doanh, xuất khẩu, đổi mới sáng tạo, kinh tế số và kinh tế xanh. Ngược lại, tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro như bất động sản đầu cơ sẽ bị kiểm soát chặt chẽ. Tất nhiên, việc kiểm soát này thực chất rất linh hoạt, không hề mang tính cực đoan. Những mảng quan trọng như nhà ở xã hội, cải tạo chung cư cũ hay các dự án minh bạch pháp lý vẫn nhận được sự ủng hộ.
![]() |
![]() |
TS. Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia tài chính – ngân hàng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển thị trường Tài chính và Bất động sản Toàn Cầu nhìn nhận, sự khác biệt lớn nhất của chính sách tiền tệ năm 2026 chính là sự chuyển dịch mạnh mẽ từ “lượng” sang “chất”.
Ngân hàng Nhà nước thực thi chiến lược kiểm soát mức tăng trưởng tín dụng quanh ngưỡng 15%. Đây là một con số được tính toán kỹ lưỡng nhằm cung ứng đủ vốn cho các động lực tăng trưởng mới mà không tạo ra áp lực nợ xấu hay gây mất cân đối hệ thống. Trọng tâm của chiến lược này là nâng cao hiệu quả dòng vốn, mỗi đồng vốn đưa ra thị trường phải gắn liền với các giá trị gia tăng thực tế và thúc đẩy tăng trưởng thông qua công nghệ cùng năng suất thay vì chỉ dựa vào đòn bẩy tài chính như trước đây.
![]() |
Cũng theo vị chuyên gia này, sức mạnh của tín dụng năm nay không chỉ nằm ở những con số, mà còn ở khả năng ‘khơi dòng’ cho các nguồn lực xã hội tuôn chảy. Sự tiên phong của các ngân hàng trong việc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và lan tỏa tín dụng xanh đã tạo nên một luồng sinh khí mới cho nền kinh tế. Luồng vốn ấy vừa bồi đắp cho những mục tiêu trước mắt, vừa đặt những viên gạch đầu tiên cho một nền kinh tế hiện đại, vững chãi. Tín dụng 2026 vì thế được kỳ vọng là cánh cửa đưa Việt Nam tiến gần hơn đến vị thế một nền kinh tế năng động, phồn vinh hàng đầu.
Với nền tảng kết quả toàn diện giai đoạn 2021-2025 và định hướng phát triển rõ ràng cho giai đoạn mới, ngành ngân hàng tiếp tục khẳng định vai trò là một trong những trụ cột quan trọng của ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng và bảo đảm an toàn hệ thống tài chính – ngân hàng, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu mà Đại hội Đảng đề ra.
Ngân hàng,việt nam,chính sách tiền tệ,Tín dụng,kinh tế,tăng trưởng kinh tế,lạm phát,VĨ MÔ,Ngân hàng Nhà nước,Mục tiêu tăng trưởng 2026#Ưu #tiên #ổn #định #nâng #chất #lượng #tăng #trưởng1771658197


















